Tâm tình thế hệ trẻ
Nguyễn Quí Đức, 11/1995
*Với tư cách là một người đứng giữa hai thế hệ trong cộng đồng Việt Nam, và giữa hai nền văn hóa Việt-Mỹ, Nguyễn Quí Đức, nhà báo, viết văn, đã được mời đến nói chuyện tại cuộc hội thảo Bể Dâu của trường Đại học San Francisco State University. Bản tiếng Việt do tác giả chuyển ngữ.
Đã 20 năm trôi qua kể từ khi người Việt chúng tôi chập chững đặt những bước chân đầu tiên lên đất Mỹ. Tôi tin không một người Việt Nam nào đến Mỹ vào những ngày trong tháng Năm, 1975, mà không nhớ đến ngày chúng tôi phải rời bỏ quê hương. Ngày đó còn mãi vất vưởng trong trí nhớ. Cái ngày mà chúng tôi đến đây để trở thành những người tị nạn tả tơi sau một cuộc chiến tai hại đó sẽ vĩnh viễn in hằn lên tâm trí. Chúng tôi mang cái ký ức đó trong tâm can như một bóng đen nặng nề và đầy tủi nhục. Những nhóm người Việt sau đó, đến Hoa Kỳ trong những năm kế tiếp, cũng mang trong tim nỗi sầu đau bắt nguồn từ một chuyến bỏ nước ra đi.
Đã nhiều lần người ta nói rằng trong lịch sử Việt Nam, chưa hề có một cuộc ra đi nào mang tầm vóc của những gì đã xảy ra vào giữa thập niên 1970 và sau đó. Và cũng đã nhiều lần, người ta cho rằng chuyện lìa xa khỏi quê hương là một trong những kinh nghiệm đớn đau nhất của người Việt Nam. Nói cho cùng, bố mẹ người Việt khi cắt rốn chôn nhau con cái sơ sinh của mình cũng chỉ vì họ muốn giúp con cái giữ được mối thân tình với đất đai của cha ông để lại. Cho dù chúng tôi không rời bỏ đất nước, chúng tôi vẫn đau khổ vô cùng khi quê hương bị ngoại bang xâm chiếm. Nhà sử học David Marr miêu tả nỗi đau khổ đó một cách rõ ràng nhất khi ông nói “người Việt bị hình ảnh “mất nước” ám ảnh”. Đúng vậy, việc bỏ nước ra đi đã luôn ám ảnh chúng tôi. Bị buộc phải rời bỏ quê hương, chúng tôi đã mất quê hương.
Nhưng nếu cho rằng ra đi là căn nguyên duy nhất gây ra tâm sự buồn bã của chúng tôi thì thật lầm lần vô cùng, và lỗi lầm đó chẳng thể nào bỏ qua được. Không cần nói ra, ai cũng phải biết cái u sầu chất chứa trong tâm can những người Việt lưu vong, ít nhất là đối với một lớp người ở một lứa tuổi nào đó, chính là nỗi u sầu bắt nguồn từ ký ức chiến tranh. Ký ức về những mất mát khi phải chiến đấu. Ký ức về những người anh, những đứa con mất tích trong rừng sâu. Ký ức về những bà mẹ, chị em, vùi thân dưới sức tàn phá của đạn bom. Của những gia đình bị chia năm xẻ bảy.
Đối với những người Việt ở miền Nam đã tham gia cuộc chiến, những người đã tham gia vào việc xây dựng đất nước trong thời gian chiến tranh, tháng 4 năm 1975 mang ý nghĩa “mất nước”. Nó đánh dấu một cuộc thất trận rất đau thương, bởi vì họ biết, và họ có nhiều lý do chính đáng để tin tưởng rằng họ chiến đấu vì chính nghĩa. Khi chiến tranh chấm dứt và họ đến tị nạn tại Hoa Kỳ, cái điều vẫn hiển hiện trước mắt họ như một tấm gương ù lì là cảm giác bị tách ra khỏi quê hương trước đây họ sống, lìa xa khỏi thân nhân họ hàng và những người họ hằng yêu thương.
Chiến tranh ám ảnh chúng tôi. Việc thất trận ám ảnh chúng tôi. Việc mất quê hương ám ảnh chúng tôi. Chúng tôi cũng mang cái đớn đau tiếc nuối rằng chúng tôi đã không làm được gì hơn và cũng không làm được gì khác để bảo vệ đất nước.
Ký ức về những khoảng thời gian vui vẻ hơn tại quê nhà quả có xoa dịu được phần nào nỗi đau của chúng tôi. Chúng tôi nghe lại những bài hát cũ, chúng tôi trò chuyện với nhau để nhắc nhớ về một buổi chiều ở ngôi trường cũ, một đêm chung quanh bạn bè, một ngôi làng, một xóm nhỏ xa xưa. Tôi vẫn còn nhớ những cú điện thoại viễn liên và những lá thư tôi trao đổi với đám bạn vào thời đó, tìm lại khoảng thời gian đã mất, tuổi trẻ đã qua và bạn bè cũ nay đã lìa xa.
Thật ra, càng nói, chúng tôi lại càng đau khổ thêm. Cái gương ù lì đó vẫn nằm trước mặt chúng tôi. Nồi đau cũng lì lợm không kém. Dù vậy chúng tôi vẫn không thế ngoảnh mặt làm ngơ được. Trong những năm đó, tôi mang tật hể thấy sách vở báo chí nào có hai chữ Việt Nam trong đó là phải mua. Đi ra đường thấy một mái tóc màu đen là quay đầu nhìn chăm chăm. Mỗi lần đọc báo, khi thấy chữ Vienna, tôi lại chăm chú đọc, bởi vì tôi tưởng đó là chữ Việt Nam.
Đau đớn nhất là tình trạng bó tay trước hoàn cảnh của những người bị bỏ lại. Chúng tôi bị cắt đứt, tách rời họ, và họ bị tách rời với chúng tôi. Đến hai, ba năm sau chúng tôi mới bắt đầu viết thư được cho thân nhân ở quê nhà. Và tin tức từ Việt Nam lúc đó lại càng làm cho chúng tôi đau buồn nhiều hơn. Chúng tôi biết đến những thái độ hằn học, thù oán. Chúng tôi nghe về tù tội, về trại cải tạo, về những áp bức. Và chúng tôi biết về những tình cảnh nghèo khó hậu chiến rơi xuống xứ sở, ụp lên đầu những người hãy còn sống tại đó.
Xin tha thứ cho tôi khi phải khơi lại những ký ức này. Nhưng tránh làm sao được? Có đau buồn, có đen tối mấy, chúng tôi cũng phải nhớ. Việc gìn giữ ký ức là một điều cần thiết, hoàn toàn cần thiết, nếu không vì lý do nào khác hơn điều đơn giản: chúng ta là những con người.
Khi nói chuyện với các bậc thân sinh của tôi, hay với bạn bè và đồng nghiệp của họ, tôi nhận ra rằng họ đang lo ngại thế hệ người Việt nhỏ tuổi bây giờ đang quên quá khứ. Rằng thế hệ nhỏ tuổi này đang phản bội những khổ đau, chịu đựng, hy sinh và nỗ lực của lớp người đi trước.
Có lúc tôi cũng ôm ấp một nỗi ái ngại như họ, nhưng tôi biết tôi có thể khẳng định với các bậc lớn tuổi rằng họ nên có niềm tin vào chúng tôi. Chúng tôi không quên quá khứ!
Với tư cách một người cầm bút, tôi thường gặp gỡ các sinh viên, những người vừa tốt nghiệp, những văn sĩ và nghệ sĩ trẻ tuổi, và tôi đoán chắc rằng họ không quên. Hơn thế nữa, họ đang tìm mọi cách để nhớ lại. Gần đây tôi nhận được một bức thư của một người Việt tuổi hai mươi. Sau khi đọc cuốn sách của tôi, cô có vẻ “ganh tị” vì tôi còn nhớ nhiều chuyện về Việt Nam. Và câu hỏi cô đặt ra là làm thế nào để yêu thương một quê hương mà cô không hề biết tới? Cô phải làm gì khi biết rằng một phần nào đó trong con người của cô thuộc vào hình ảnh Việt Nam, hình ảnh quê hương? Cuối cùng thì câu hỏi của cô là một câu hỏi tuy cổ điển nhưng vần gây xúc động: tôi biết nguồn cội của tôi ở đâu, nhưng làm cách nào để tôi có thể tìm về nguồn cội?
Tôi không trả lời được câu hỏi ấy. Nhưng điều này thì tôi biết rõ: việc nhớ lại những khổ đau và chịu đựng trong quá khứ chẳng thể nào làm què quặt chúng tôi được. Quá khứ không thể là hàng rào cản ngăn con đường đi đến tương lai. Phải chăng tôi đang đề nghị là mình nên chọn những gì tốt đẹp để nhớ? Chỉ nên nhớ những gì không ngăn cản bước tiến của chúng ta thôi chăng? Cũng có thể như vậy. Nhưng tôi vẩn tin rằng trong mỗi người chúng ta, ai cũng có khả năng và ý muốn vượt qua những dị biệt của quá khứ, tha thứ và trút bỏ hận thù, tị hiềm. Đó là con đường duy nhất để làm lành vết thương. Đó là giải pháp duy nhất, đó là sự lựa chọn duy nhất của chúng tôi.
Hãy cho phép tôi nhấn mạnh lại một lần nữa rằng tôi, cũng như nhiều người cùng thế hệ, cảm thông được những kinh nghiệm đớn đau của lớp người đi trước . Chúng tôi hiểu rằng cô những thái độ lưỡng lự trước sự lựa chọn đó. Nhưng đối mặt với sự lựa chọn đó là việc phải làm. Chúng ta phải quên hận thù, phải quên ganh ghét.
Làm công việc phiên dịch, tôi muốn ghi nhận những khổ đau của thế hệ những người Việt lớn tuổi hơn. Tôi đến với những nhà xuất bản, những biên tập viên đang thực hiện những cuốn tuyển tập văn chương Việt Nam, và tôi nói với họ rằng họ cần có một tầm nhìn bao quát. Tôi tranh đấu để tất cả những tiếng nói Việt Nam được vang lên. Bắc, Nam, già trẻ, ai cũng có một quá khứ, ai cũng có kinh nghiệm riêng tư. Phải nghe tiếng nói của mọi người, mọi phía. Nhưng muốn như vậy, phải có khả năng và ý chí lật qua trang sử.
Đó không phải là việc dễ làm, nhưng là việc phải làm.
Cách đây hai hôm, tôi có địp nói chuyện với ông Vũ Văn Lộc, một nhân vật hoạt động lâu năm trong cộng đồng tại vùng San José. Ông là người có nhiều liên hệ với những hội đoàn trong cộng đồng chủ trương chống đối mọi liên hệ với Việt Nam. Trong cuộc đối thoại đó, ông nói rằng ông nhận thấy đã đến lúc ông và những người cùng thời chuyển giao qua vai giới trẻ những công việc mà ông đang thực hiện. Điều làm tôi cảm động nhất trong khi nói chuyện với ông chính là sự phân định mà ông đã nói lên. Tôi xin trích lời ông: “Bác muốn giao lại công việc và kinh nghiệm cho các cháu, nhưng bác không muốn bàn giao hận thù do một cuộc chiến tranh phân hóa gây ra”.
Tôi rất tán thưởng thái độ đó. Ông Lộc đã nhấn mạnh rằng ông chỉ muốn làm thế nào để lớp trẻ chúng tôi có đủ thông tin, ông muốn rằng chúng tôi có kiến thức và học hỏi cho đầy đủ về quá khứ, nhưng sự hiểu biết đó phải là phương tiện hướng dẫn cho chúng tôi đi đến tương lai. Sự hiểu biết đó không thể làm cản trở bước tiến của chúng tôi. Việc nhớ đến quá khứ là một điều có tính cách rất là Việt Nam. Tôi cảm thấy an tâm hơn khi tôi biết về quá khứ. Biết quá khứ mới chấp nhận được quá khứ. Hơn nữa, khi tôi nói đến quá khứ, tôi muốn nói đến một quá khứ xa vời hơn cái quá khứ của hai mươi hoặc bốn mươi năm qua. Tôi nói đến một quá khứ bốn ngàn năm.
Tôi luôn luôn xúc động mỗi khi chứng kiến việc thắp hương trước bàn thờ. Người Việt chúng tôi vẫn tiếp tục thắp hương, cúng lễ ở Mỹ, ngay cả khi thân nhân của chúng tôi được chôn cất tại phía bên kia quả địa cầu. Chúng tôi đã mang những tập tục của chúng tôi sang Hoa Kỳ. Chúng tôi mang đến Hoa Kỳ quá khứ của chúng tôi, mang theo cả những sự hy sinh và những chiến thẳng của tổ tiên. Tinh thần của họ hướng dẫn cho chúng tôi. Và những người đi trước, gần đây hơn, cũng đang hướng dẫn chúng tôi. Dưới con mắt của họ, chúng tôi có thể là những đứa trẻ lạc lối. Nhưng điều không phủ nhận được là những người trẻ tuổi chúng tôi vẫn mang trong huyết quản nỗi sợ hãi cùng niềm hy vọng của lớp người lớn tuổi hơn. Chúng tôi muốn tôn vinh họ.
Trong những dịp liên hệ với những người trẻ tuổi đang lên tiếng, bằng Việt ngữ hoặc Anh ngữ, trên mặt giấy hoặc trên Internet, tôi nhận thấy họ có ước muốn ghi nhận những kinh nghiệm của những người đã đi trước. Người Việt chúng tôi nói Uống Nước Nhớ Nguồn. Luôn luôn nhớ nguồn. Ít ra, tôi vẫn còn nhớ câu ngạn ngữ đó.
Bây giờ tôi xin đưa ra một thỉnh nguyện. Dưới nhãn quan nào đi nữa, khi nhìn về chúng tôi, xin hãy thấy trong con người chúng tôi một chút sắc thái “Mỹ”. Nếu có một tinh thần chấp nhận định mệnh ở phần Việt Nam trong con người chúng tôi, thì ngược lại chúng tôi cũng có một tinh thần lạc quan rất Mỹ. Chúng tôi rất muốn tiến tới. Tôi tin rằng cái đam mê đó phần nào sẽ được tinh thần Khống giáo và truyền thống văn hóa Việt Nam kiềm chế. Nhưng dù vậy, chúng tôi vẫn sẽ tiến tới. Chúng tôi nhớ đến quá khứ, nhưng chúng tôi sẽ tiến tới.
Tôi mang ơn bố mẹ tôi đã dạy cho tôi bài học đó. Nếu quý vị biết về cuộc đời của bố tôi thì hẳn quý vị đã rõ bố tôi đã mất những năm tháng sung mãn nhất của một đời người trong ngục tù. Và mẹ tôi, một nhà giáo, có lúc đã phải bán bún trên lề đường để sinh nhai. Nhưng họ không cay đắng vì họ thấu hiểu cái nhu cầu muốn tìm về quê hương của tôi. Họ tin tưởng rằng tôi có khả năng phân biệt được điều nào có ích, điều nào không có lợi khi tôi nói tôi đang có những chương trình làm việc có dính dáng đến quê nhà. Họ tin rằng tôi biết cái gì làm được, cái gì không. Họ không sợ rằng tôi đang quên kinh nghiệm của họ khi tôi nhìn về Việt Nam. Họ biết tôi không quên quá khứ khi tôi nhắm đến tương lai.
Một trong những điều gây cho tôi hứng khởi nhất khi sinh hoạt với nhóm bạn văn người Việt trẻ tuổi, Mực & Máu, chính là sự hòa hợp giữa quá khứ và mục tiêu cho tương lai. Tương lai đó không phải là một nơi dễ dãi cho chúng tôi. Hoa Kỳ vẫn còn là một nơi có rất nhiều sự kỳ thị chủng tộc. Chúng tôi biết chúng tôi còn cần tiếp tục những cuộc đấu tranh của những nhóm di dân khác để giành được sự chấp nhận. Những nhóm di dân như người Ái Nhĩ Lan, người Nhật, người Hoa... chẳng hạn. Chúng tôi không thể để cho có một đạo luật ngăn cấm di dân xảy ra một lần nữa. Tôi không chắc rằng điều đó sẽ không xảy ra. Có thể sự kỳ thị sẽ được ngụy trang dưới những dạng thức khác. Và chung quanh chúng ta đây, sự kỳ thị đó vẫn đang bừng dậy. Ngoài việc chống kỳ thị, chúng tôi còn có nhiều công việc khác phải làm. Dưới mắt những người Việt trẻ tuổi chúng tôi, kinh tế và văn hóa của cộng đồng Việt vẫn chưa vững chãi. Và khi nhìn về quê hương chúng tôi nhận thấy còn quá nhiều việc phải làm. Chúng tôi sẽ đương đầu với những công việc đó. Chúng tôi sẽ tìm biết chúng tôi cần làm những gì, chúng tôi giúp như thế nào cho được việc.
Tôi e rằng đến giờ quý vị sẽ đặt câu hỏi: vậy lòng trung thành của anh đặt ở đâu? Tôi là một người Mỹ gốc Việt, vậy nghị lực của tôi sẽ dành cho xứ sở nào? Tôi nói nhiều đến quê hương tôi. Ý niệm “thuộc về” quê hương đó, có rõ rệt tinh thần trung thành với nơi mình sinh ra. Nó đặt căn bản trên lãnh thổ và huyết thống. Ở Mỹ, người ta thường nhắc đến ý niệm xứ sở và quốc gia. Ở Việt Nam, chúng tôi nói đến Tổ quốc, làng mạc, đình chùa và quê hương. Tại Mỹ, chúng ta nói đến việc làm và thành quả. Tại Việt Nam, chúng tôi nói đến quan hệ cộng đồng và tình gia đình.
Xin đừng đặt câu hỏi về cá nhân hoặc thế hệ chúng tôi. Bốn ngàn năm lịch sử đang sống còn trong thâm tâm chúng tôi. Bởi vì vậy mà tôi nói rằng hãy giữ vững niềm tin nơi chúng tôi. Chúng tôi trung thành với lịch sử, với kinh nghiệm tổ tiên, và gần gũi hơn, với cha ông chúng tôi. Là người Việt Nam, chúng tôi luôn luôn hướng về quê hương.
Và chúng tôi cũng sẽ trung thành với nước Mỹ. Nước Mỹ là nơi chúng tôi đã học được một số giá trị mới và những phương thức mới để tiến đến tương lai. Chúng tôi đã học được những thái độ mới, chúng tôi có tự tin vì nước Mỹ đã dành cho chúng tôi nhiều cơ hội. Và vì đó chúng tôi sẽ làm những gì lớp di dân trước đã làm. Chúng tôi sẽ gây dựng lại nước Mỹ. Chúng tôi sẽ xây lại nền móng cho “Giấc Mơ Mỹ”. Khi gây dựng lại nước Mỹ bằng sự hiện diện và tinh thần di dân của chúng tôi, bằng những gì chúng tôi cho là lý tưởng tột đỉnh nhất, chúng tôi sẽ mang lại cho nước Mỹ một số giá trị mà tôi cho là đã gần như phai mòn rồi. Nếu quý vị biết tôi, quý vị sẽ biết rằng tôi bất bình với giới bảo thủ cực đoan thường cho rằng những người di dân mang đến Mỹ những giá trị ngoại lai. Tôi tin rằng người Việt chúng tôi mang đến cho nước Mỹ một tinh thần cộng đồng cùng với một trật tự xã hội vững chắc hơn. Tôi chỉ mong rằng những giá trị đạo Khổng, tinh thần trọng nể người lớn và các giáo chức, tinh thần hy sinh cho cộng đồng đặt bên trên chủ nghĩa cá nhân của chúng tôi, sẽ có cơ bừng nở tại đây. Ngoài những điều trên đây, tôi còn xin khẳng định điều này: chúng tôi sẽ đấu tranh để mọi cánh cửa được mở rộng tại Hoa Kỳ, bởi vì những cánh cửa đó đã từng được mở rộng để chào đón chúng tôi.
Bây giờ nếu quý vị hỏi tôi có gì muốn nói với những người Việt thuộc thế hệ trẻ hơn tôi, tôi sẽ góp ý như sau: quý anh chị em đã có được nhiều cơ may và nhiều sự lựa chọn. Nhiều hơn những gì tôi nhận được khi tôi đến Hoa Kỳ. Mà lại còn nhiều hơn gấp bội so với những gì bố mẹ của tôi đã nhận được. Những ký ức đớn đau về chiến tranh, tù tội, hận thù, áp bức cũng sẽ còn lỡn vỡn trong trí nhớ của quý anh chị. Nhưng những điều đó còn đè nặng hơn nữa trong thâm tâm lớp người đàn anh của chúng ta. Cái buồn đau, tức bực của lớp người đi trước còn sâu đậm hơn nhiều. Đối với họ chiến tranh và hậu quả của nó là một động lực hầu như là động lực ngăn cản họ trở về quê hương. Sự thù nghịch vẫn còn quá sâu đậm. Đối với những người thuộc thế hệ của tôi, và của quý anh chị, chúng ta không có một sự lựa chọn nào khác ngoài việc nhìn nhận rằng chúng ta có một vai trò cần phải hoàn tất cho dù đã có những dấu vết đau thương đi kèm theo bước chân của chúng ta khi chúng ta rời bỏ quê nhà và đến Hoa Kỳ. Tôi tin rằng lúc nào cũng là lúc để hàn gắn vết thương. Tôi sẽ luôn luôn yêu mến quê hương, và tại nơi thâm sâu nhất trong tim, tôi vẫn sẽ luôn luôn là người Việt Nam. Nhưng trái tim đó cũng đòi hỏi tôi trở thành một người Mỹ tốt. Tôi mang ơn nước Mỹ về những cơ may tôi đã có được ở đây. Tôi hy vọng quý anh chị cũng sẽ thế. Quý anh chị phải như thế. Và bởi vì quý anh chị đã nhận được nhiều cơ may hơn, tôi muốn ghi nhận nơi quý anh chị những khả năng và hiểu biết mà tôi không có.
Tôi xin quý anh chị chung bước với tôi, tiến đến tương lai chung của chúng ta. Hãy chung bước với tôi, như tôi đã đi dưới bóng các bậc đàn anh trong hai mươi năm qua. Tôi hy vọng rằng quý anh chị biết tôi đã bị dằn vặt trong chỗ đứng của một nhà văn, của một người Việt Nam, một người Mỹ, bởi vì tôi vẫn nhớ tới cái kinh nghiệm của những người thuộc thế hệ của bố mẹ tôi, của những người đã biểu tình chống đối hôm vừa qua. Tôi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tin vào câu chuyện của họ. Tôi cũng đã buồn khi phải chịu sự o ép của cộng đồng. Nhưng tôi vẫn luôn luôn nhớ tới kinh nghiệm của họ, tới sự phẫn uất và cay đắng của họ. Tôi hiểu những năm tù tội của họ, những năm đói khổ của họ. Tôi đã từng chung sống và làm việc với họ trong các trại tị nạn, và tôi đã chứng kiến quyết tâm của họ làm lại cuộc đời sau một chuyến vượt biên, hoặc khi nằm lăn lóc trong những căn nhà nóng nung dưới ánh mặt trời xích đạo mà không hề biết tương lai rồi sẽ về đâu.
Tôi mong rằng trong bất cứ công việc gì quý anh chị làm, tại đây hay tại quê hương, bây giờ hay trong tương lai, xin hãy tôn trọng và tôn vinh họ. Nếu trong lòng quý anh chị không có sự cay đắng, thì hẳn phải sẵn sàng để làm được những gì có ích. Để nhớ rằng chúng ta thuộc vào một cộng đồng. Cộng đồng đó có bốn ngàn năm. Cộng đồng đó đặt nguồn cội tại Việt Nam, và bây giờ có cả mối dây sang đến những bến bờ bên này. Cái liên hệ đó, từ Việt Nam sang Mỹ, bắt đầu từ một cuộc chiến. Đó là điều đáng buồn. Nhưng bây giờ đã đến lúc quý anh chị biến cái liên hệ đó thành một tình thân hữu nghị.
Quý anh chị đang chứng kiến một trang sử đang được lật qua. Hãy chung bước với tôi, và với những thế hệ người Mỹ gốc Việt tương lai, để tạo dựng cho chúng ta một cộng đồng mạnh mẽ hơn tại Mỹ. Cộng đồng đó không thể nào không vững mạnh được bởi vì cộng đồng đó có bốn ngàn năm lịch sử ở sau lưng. Hãy hãnh diện vì những nông dân, những vị vua, những học giả đã thuộc vào trong lịch sử đó. Và sau hai mươi năm ở đây, quý anh chị cũng thuộc vào nơi đây nữa. Hãy hãnh diện vì lịch sử nước Mỹ.
Hãy đưa cho tôi đi xa khỏi chiến tranh, đi quá việc hàn gắn.
Hãy đưa tôi về một tương lai vững mạnh, đáng hãnh diện.
